DANH MỤC CHÍNH
Phẫu thuật mi mắt
Phẫu thuật mũi
Phẫu thuật môi
Phẫu thuật tai
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng mặt
Phẫu thuật sọ mặt
Tạo hình ngực
Tạo hình bụng
Thân mình và hút mỡ
Cơ quan sinh dục ngoài
Béo phì
Tạo hình bàn tay
Tạo hình chi dưới
Implant nha khoa
Điều trị Laser
Điều trị nội thẩm mỹ
Khác


TÌM KIẾM:

THÀNH VIÊN




HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN


Bác sĩ Hà


Bs Vũ Trung Trực


Bác sĩ Dzang


Tư vấn thiết kế Web


LIÊN KẾT

Lượt truy cập: 1536785
  • Phẫu thuật thẩm mỹ vùng mặt » Căng da mặt
  • Phẫu thuật căng da mặt và cổ
    Cập nhật: 8 h : 23 phút, ngày 25/01/2008

     
    SẸO
     
    Phẫu thuật này, cũng như các phẫu thuật khác, luôn để lại sẹo. Sẹo nằm trong tóc vùng thái dương, chạy xuống trước tai sau đó chạy vòng ra sau tai và nằm trong tóc vùng sau tai.
    Cũng như các sẹo khác, sẹo này tồn tại vĩnh viễn và không thể xóa bỏ được. Nó cơ thể đỏ trong vòng nhiều tháng, và cần được bảo vệ khỏi ánh nắng trong ít nhất 6 tháng để tránh tình trạng sẹo thẫm màu. Kích thước, chiều dày và độ mềm mại của sẹo chỉ ổn định sau phẫu thuật 6 tháng tới 1 năm.
    Ở nam giới, sau mổ râu cằm có thể lên cao hơn về hướng vùng tai.
     
     
    TRƯỚC PHẪU THUẬT
     
    -         Bênh nhân sẽ được phẫu thuật viên khám ít nhất 2 lần trước mổ.
    -         Buổi khám gây mê là bắt buộc nhiều ngày trước mổ. Bác sỹ gây mê sẽ giải thích kỹ với bệnh nhân về các tiến trình gây mê, cũng như các tai biến và rủi ro của gây mê có thể xảy ra trong mổ. Bác sỹ cũng sẽ kê các xét nghiệm máu, chụp tim phổi và làm điện tâm đồ nếu cần.
    -         Bệnh nhân sẽ được chụp ảnh khuôn mặt ở các tư thế. Đây là các ảnh y học, được lưu hồ sơ, và luôn được thực hiên một cách hệ thống tại khoa phẫu thuật tạo hình và hàm mặt.
    -         Một loại băng chun vùng mặt đặc biệt sẽ được bác sỹ kê để bệnh nhân mua trước mổ.
    -         Bệnh nhân cần chuẩn bị một số ngày nghỉ sau phẫu thuật. Lưu ý rằng một số vết bầm máu và phù nề có thể xuất hiện ở vùng mổ và chỉ biến mất hoàn toàn ít nhất 3 tuần sau phẫu thuật.
    -         Bệnh nhân cần dừng hút thuốc lá 2 tháng trước mổ để giảm nguy cơ hoại tử da.
    -         Aspirine, các thuốc chống viêm cũng như các thuốc chống đông dùng đường uống cần được ngừng 15 ngày trước phẫu thuật để giảm nguy cơ chảy máu.
    -         Bệnh nhân cũng cần dừng các thuốc tránh thai đường uống 1 tháng trước phẫu thuật để giảm nguy cơ tắc mạch sau mổ.
    -         Gội đầu trước mổ.
     
    PHẪU THUẬT
     
    -         Phẫu thuật được tiến hành dưới gây mê và sẽ kéo dài từ 1,5 giờ tới 3 giờ tùy trường hợp.
    -         Bệnh nhân sẽ phải nhập viện vào 7 giờ ngày mổ, nhịn ăn uống từ đêm trước.
     
    SAU PHẪU THUẬT
     
    -         Bệnh nhân sẽ tỉnh lại tại phòng hồi tỉnh, sau đó được chuyển về phòng của mình.
    -         1 hệ thống dẫn lưu sẽ được sử dụng để giảm nguy cơ máu tụ và nó được lưu trung bình từ 1 ngày tới 3 ngày, tùy theo số lượng dịch tiết ra hàng ngày. Bệnh nhân có thể giữ các ống dẫn lưu khi xuất viện và quay lại bệnh viện để lấy bỏ nó theo hẹn của bác sỹ.
    -         Bệnh nhân sẽ thay băng ngày thứ 2 sau mổ, rồi sau đó sẽ dần được thay thế bằng băng mặt chun giãn mà bệnh nhân đã mua trước mổ, và đeo liên tục cả ngày lẫn đêm trong vòng 1 tuần sau mổ.
    -         Để tránh nguy cơ viêm tắc tĩnh mạch, bệnh nhân cần vận động sớm, ngồi dậy và đi lại vào ngày thứ 2 sau mổ nếu có thể. Tùy trường hợp mà bác sỹ có thể kê thuốc chống đông máu dạng tiêm hay dạng uống.
    -         Thời gian nằm viên trung bình từ 1 đến 3 ngày. Khi xuất viện, cần có người tới đón và đưa bệnh nhân về nhà.
    -         Cắt chỉ sau mổ từ 5 đến 15 ngày.
    -         Bệnh nhân có thể gội đầu sau mổ 2 ngày, cắt tóc sau 3 tuần và nhuộm tóc sau 4 tới 6 tuần.
    -         Trong những ngày sau mổ có thể xuất hiện các dấu hiệu sau :
    + Sưng nề và bầm máu vùng vùng mặt và cổ. Chúng thường không đối xứng, và tồn tại ít nhất 15 ngày sau mổ.
    + Tê hoặc giảm cảm giác vùng cổ hoặc mặt do bị bóc tách trong mổ. Những vùng bị bóc tách này có thể hơi cứng trong vong một vài tháng. Ngoài ra có thể gặp cảm giác căng vùng mổ, nhất là vùng sau tai.
    + Đau vùng mổ. Bệnh nhân sẽ được dùng thuốc giảm đau tùy theo mức độ đau.
    -         Bệnh nhân tới khám lại sau mổ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm để kiểm soát các biến chứng nếu có.
    -         Kết quả phẫu thuật chỉ được đánh giá 6 tháng sau mổ, và 12 tháng là thời gian cần thiết để đánh giá chất lượng của sẹo.
     
     
    BIẾN CHỨNG
     
    Tất cả các kiểm tra, thăm dò hay can thiệp y học trên cơ thể người, kể cả khi được thực hiện trong những điều kiện kỹ thuật và an toàn nghiêm ngặt, đều có thể có các biến chứng. Cũng như các can thiệp phẫu thuật khác, phẫu thuật tạo hình mi mắt có thể gặp các biến chứng sau :
     
    1. Tai biến của gây mê, gây tê.
    2. Tai biến chung của phẫu thuật
    -         Tai biến chảy máu sau mổ, thường xảy ra hơn ở nam giới, nếu có thường được mổ lại cầm máu để tránh nguy cơ hoại tử da. Việc ngừng các thuốc aspirine, thuốc chống viêm giảm đau và thuốc chống đông đường uống ít nhất 15 ngày trước mổ góp phần làm giảm nguy cơ này.
    -         Da vùng mổ sẫm màu : do máu tụ nhỏ không được hấp thu hết.
    -         Hoại tử da khu trú: Có thể gặp, nhất là ở vùng sau tai vì vùng này da rất mỏng. Nó sẽ làm chậm quá trình liền sẹo hoặc để lại sẹo lớn.
    -         Viêm nhiễm vùng mổ: rất hiếm gặp
    -         Rối loạn liền sẹo : Sẹo giãn, phì đại hay lồi, có thể cần can thiệp lại tùy trường hợp.
    Tai biến tắc mạch : Viêm tĩnh mạch hoặc tắc mạch phổi, đây là biến chứng nghiêm trọng, có thể đe dọa tính mạng, nguy cơ này có thể tăng cao khi bệnh nhân đã từng bị bệnh này trước mổ. Ngừng dùng thuốc tránh thai 1 tháng trước mổ, mang tất chống tắc mạch, vận động sớm và sử dụng thuốc chống đông là những biện pháp có thể được sử dụng để giảm các nguy cơ này.
     
    3. Tai biến đặc biệt của loại phẫu thuật này :
     
    -    Mất tóc : Thường gặp mất tóc vùng thái dương, có thể tạm thời hoặc vĩnh viễn. Trong trường hợp sau cần can thiệp lại bằng phẫu thuật.
    -     Đường chân tóc có thể bị kéo lên.
    -    Liệt mặt : Do tổn thương nhánh thần kinh số 7, đây là tổn thương hiếm gặp, nhưng có thể gặp ( ít hơn 1% trong y văn thế giới). Liệt mặt  có biểu hiện nhắm mắt không kín, giảm hoạt động của miệng và sự teo dần dần của mặt bên liệt. Liệt mặt thường tổn thương một phần, thường chỉ ảnh hưởng đến một nửa khuôn mặt. Nó có thể tự phục hồi sau một thời gian, nhưng cũng có thể tồn tại vĩnh viễn.
    -    Giảm cảm giác vùng tai : thường do tổn thương nhánh thần kinh cảm giác cho tai ( nhánh tai sau) có thể gặp. Nó biểu hiện đau dọc đường đi của nhánh thần kinh này, và thường sẽ tự phục hồi cùng với thời gian.
    -    Cảm giác khó chịu khi nâng vai do tổn thương thần kinh đốt sống, đặc biệt hiếm gặp.
    -    Dái tai có thể bị kéo xuống dưới và ra trước, do sức căng lớn của sẹo vùng trước tai. Sau 6 đến 12 tháng, nếu nó vẫn còn tồn tại, cần làm một phẫu thuật nhỏ để đưa dái tai trở lại vị trí bình thường.
    -    Sự không hoàn hảo của kết quả : Cắt bỏ da chưa đủ hoặc sự không cân đối giữa 2 bên khuôn mặt, có thể được sửa chữa 6 tháng sau lần mổ đầu tiên.
    -         Vì nói chung tính thẩm mỹ của kết quả của phẫu thuật thường được đánh giá một cách chủ quan, nên không phải lúc nào nó cũng được như mong đợi.
     
     
               

    TIN NỔI BẬT



    LIÊN KẾT