DANH MỤC CHÍNH
Phẫu thuật mi mắt
Phẫu thuật mũi
Phẫu thuật môi
Phẫu thuật tai
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng mặt
Phẫu thuật sọ mặt
Tạo hình ngực
Tạo hình bụng
Thân mình và hút mỡ
Cơ quan sinh dục ngoài
Béo phì
Tạo hình bàn tay
Tạo hình chi dưới
Implant nha khoa
Điều trị Laser
Điều trị nội thẩm mỹ
Khác


TÌM KIẾM:

THÀNH VIÊN




HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN


Bác sĩ Hà


Bs Vũ Trung Trực


Bác sĩ Dzang


Tư vấn thiết kế Web


LIÊN KẾT

Lượt truy cập: 1531943
  • Trang chủ
  • Phẫu thuật tạo hình – xu thế phát triển và triển vọng

     

     

                 

     

               Nguyễn Bắc Hùng*, Lê Gia Vinh*, Trần Thiết Sơn*

     

     

     

     

    Từ Phẫu thuật tạo hình (plastic surgery) lần đầu tiên được Von Graefe, một phẫu thuật viên người Đức, sử dụng trong cuốn sách Tạo hình mũi (Rhinoplastik) của mình vào năm 1818. Cũng kể từ đây, danh từ này đã trở thành một thuật ngữ khoa học để chỉ một chuyên ngành thực ra đã hình thành và phát triển trước đó gần 5000 năm. Cùng với sự phát triển của nhiều chuyên nghành y học khác, sự đóng góp của khoa học và công nghệ tiên tiến đã định hình một cách chắc chắn cho chuyên ngành phẫu thuật tạo hình hiện đại, nhưng điều này không làm thay đổi mục đích vốn có của phẫu thuật tạo hình, đó là phục hồi hay tái tạo hình dạng - chức năng bình thường của cơ thể, cũng như tạo ra sự hoàn thiện hơn cho cơ thể con người.

     

     

     

    Lịch sử phát triển của Phẫu thuật tạo hình

     

    Trước công nguyên hơn 3000 năm, người Ai cập cổ đại đã biết điều trị các vết thương mặt, xương hàm cũng như tái tạo lại mũi bằng các vạt da được lấy từ trên mặt. Cùng trong thời gian đó, người Hindu Ấn Độ cũng đã biết tạo lại mũi cho những tù nhân bị cắt mũi trước đó, bằng các vạt da có cuống lấy từ trán hay má. Đến thời kỳ trung cổ, các thầy thuốc của La mã và Hy lạp đã có thể thực hiện được các phẫu thuật liên quan tới khuyết tật của vùng mặt. Phẫu thuật tái tạo các bộ phận trên mặt đã rất phát triển tại châu Âu từ thế kỷ 14, đặc biệt là tại Ý. Thời kỳ Phục hưng được đánh dấu bằng sự phát triển của một loại chuyên ngành ngoại khoa mới, phẫu thuật tái tạo lại các bộ phận trên bộ mặt của con người. Cho đến cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, một số loại kỹ thuật tạo hình được ghi nhận như ghép da, vạt da, ghép sụn… Trong thời gian này, các kỹ thuật trên được áp dụng rộng rãi trong ngoại khoa và đóng góp tích cực trong việc thay đổi bộ mặt của chuyên ngành phẫu thuật tạo hình non trẻ. Có thể nói thế kỷ 19 là giai đoạn hình thành và định hình của chuyên nghành Phẫu thuật tạo hình. Thế chiến thứ nhất và thứ hai là thời gian bùng nổ của phẫu thuật tạo hình, các bác sỹ quân y trở thành những người tiên phong và nhiều kinh nghiệm trong việc phẫu thuật cho các thương binh. Phạm vi tái tạo lại các bộ phận bị thương tổn không còn dừng lại ở mặt, mà liên quan tới chi thể và vùng thân. Các bệnh lý bẩm sinh cũng dần trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà phẫu thuật tạo hình. Các nước Mỹ, Pháp, Anh, Nga trở thành những nơi tập trung của các nhà phẫu thuật tạo hình, tại đó các kỹ thuật tạo hình được áp dụng và hoàn thiện. Các phẫu thuật viên hàm mặt là những người tiếp cận đầu tiên với kỹ thuật tạo hình, sau đó một số phẫu thuật viên thuộc chuyên khoa khác như sản, chấn thương, tai mũi họng, mắt… cũng dần dần áp dụng kỹ thuật tạo hình trong chính chuyên khoa của mình. Cũng trong giai đoạn này, tại Mỹ các phẫu thuật viên tạo hình đã được đào tạo và trở thành những hạt nhân nòng cốt cho chuyên ngành Phẫu thuật tạo hình. Những tiến bộ của công nghiệp hóa chất trong những năm 1950-1960 đã hình thành một hướng nghiên cứu mới – đó là sự dụng các chất liệu thay thế trong phẫu thuật tạo hình. Sự bùng nổ của kỹ thuật vi phẫu mạch máu - thần kinh trong những năm 1960 đã tạo cho phẫu thuật tạo hình một bước ngoặt quan trọng. Việc nối lại các phần chi thể bị đứt rời khỏi cơ thể, rồi đền hàng loạt các vạt tổ chức có cuống mạch nuôi được phát hiện cùng với việc chuyển và nối ghép các vạt này tự thân đã thực sự thay đổi bộ mặt của chuyên ngành Phẫu thuật tạo hình trên thế giới. Trong những năm 1980, kỹ thuật giãn tổ chức ra đời và đã đóng góp quan trọng cho Phẫu thuật tạo hình hiện đại, đó là khả năng của con người có thể tái tạo ra một chất liệu tạo hình tối ưu ngay trên cơ thể mình. Cùng với số lượng phẫu thuật viên tạo hình ngày càng tăng, sự đa dạng của các chất liệu được sử dụng trên lâm sàng, khả năng linh hoạt của các kỹ thuật tạo hình phức tạp là nét đặc trưng của phẫu thuật tạo hình hiện đại. Bên cạnh lĩnh vực phẫu thuật tạo hình cho những bệnh nhân bị khuyết tật và bệnh lý, các can thiệp nhằm hoàn thiện diện mạo bên ngoài cơ thể con người cũng tăng dần do nhu cầu về chất lượng cuộc sống của xã hội hiện đại, phẫu thuật thẩm mỹ cũng bị tách dần khỏi phẫu thuật tạo hình bởi thành phần các bác sỹ tham gia không còn là các phẫu thuật viên tạo hình. Sự phát triển của các công nghệ làm đẹp, tính thương mại hoá của phẫu thuật thẩm mỹ, tính đa tạp và thiếu chuyên nghiệp của các bác sỹ làm thẩm mỹ là hiện tượng phổ biến trên thế giới trong hai thập kỷ gần đây.

     

     

     

    Sự phát triển của chuyên nghành Phẫu thuật tạo hình ở Việt Nam

     

    Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, cùng với sự phát triển của ngành ngoại khoa, các kỹ thuật tạo hình được áp dụng một cách không hệ thống. Sang đến giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, các phẫu thuật viên quân y là những người được đào tạo cơ bản về phẫu thuật tạo hình tại một số nước Đông âu, đây trở thành những hạt nhân để phát triển nhân lực cho chuyên ngành phẫu thuật tạo hình. Trong giai đoạn này, các kỹ thuật tạo hình chủ yếu để tái tạo lại các vết thương chiến tranh ở vùng mặt và chi thể của thương binh. Trong giai đoạn hoà bình và thống nhất đất nước, Khoa Phẫu thuật hàm mặt, bệnh viện 108 đã trở thành chiếc nôi của chuyên ngành Phẫu thuật tạo hình Việt Nam. Các kỹ thuật tạo hình dần được áp dụng thành công không chỉ cho các đối tượng thương bệnh binh mà nhu cầu còn vượt ra cả đến các đối tượng ngoài quân đội. Các lớp đào tạo bổ túc về phẫu thuật tạo hình cho các bác sỹ hệ ngoại được tổ chức hàng năm. Bên cạnh việc áp dụng thành công các kỹ thuật tạo hình tại nhiều chuyên khoa khác như chấn thương chỉnh hỉnh, ngoại tổng quát, mắt, răng hàm mặt, tai mũi họng… số lượng các bác sỹ được đào tạo theo chuyên ngành Phẫu thuật tạo hình càng ngày càng tăng. Bộ môn Phẫu thuật tạo hình của Trường đại học Y Hà Nội được thành lập năm 1991 đánh dầu sự tồn tại của một chuyên ngành mới mẻ trong nền Y học Việt Nam. Các kỹ thuật tạo hình hiện đại như vi phẫu mạch máu thần kinh, giãn da, chuyển vạt da cân – da cơ, phẫu thuật bàn tay, phẫu thuật sọ mặt, laser… đã được các bác sỹ tại nhiều khoa Phẫu thuật tạo hình thực hiện thành công. Sự mở cửa về kinh tế, sự tiếp thu các kỹ thuật tạo hình mới nhờ du học ở các nước phương tây, đã giúp ngành Phẫu thuật tạo hình Việt Nam tiến gần hơn đến trình độ của thế giới. Các ca tạo hình dương vật, giãn da trong bỏng và dị tật, ghép lại da đầu bị lóc luôn là những bất ngờ cho các đồng nghiệp nước ngoài.

     

    Phẫu thuật tạo hình Việt Nam đã có những bước tiến dài cả về đội ngũ các bác sỹ chuyên khoa này cả về trình độ, kỹ năng chuyên môn, thế nhưng hiện tại chuyên ngành này vẫn chưa được đánh giá đúng vai trò và thậm chí còn thường bị gọi sai tên. Có nơi gọi nhầm phẫu thuật tạo hình thành phẫu thuật thẩm mỹ, đó là sự nhầm lẫn giữa tên chuyên khoa rộng với một chuyên ngành hẹp. Cũng có thể gọi nhầm khác và khá phổ biến là giải phẫu thẩm mỹ (từ giải phẫu chỉ dùng khi mổ xác chết), hay thậm chí còn nhầm thành phẫu thuật chỉnh hình (thuật ngữ chỉnh hình để chỉ các phẫu thuật cho cơ quan vận động và nó không bao hàm nghĩa đen là thay đổi hình dạng). Cũng từ những nhầm lẫn về cách gọi này mà đa số các cán bộ y tế đều cho rằng chuyên khoa phẫu thuật tạo hình là một thứ nghề xa xỉ phục vụ cho người có tiền...

     

     

     

    Phạm vi của Phẫu thuật tạo hình

     

    Phạm vi đầu tiên của Phẫu thuật tạo hình là những phẫu thuật liên quan tới các quá trình bệnh lý ở da và mô mềm che phủ cơ thể (mỡ, cân cơ, mạch máu, thần kinh...), trừ các cơ quan nội tạng. Các quá trình bệnh lý mắc phải hay bẩm sinh của da và mô dưới da được điều trị bằng nhiều kỹ thuật tạo hình khác nhau, nhằm tái tạo (phần mô bị mất) hay phục hồi (phần mô biến dạng) cả về hình thái và chức năng của da. Các bệnh lý được nhắc đến nhiều là bỏng và các di chứng bỏng, các di chứng da và phần mềm do chấn thương, khuyết da và mô mềm sau bất cứ nguyên nhân nào, nhiễm trùng da hay loét dinh dưỡng da và mô mềm, khuyết mô dưới da như cân cơ.... Với các phẫu thuật chỉ liên quan tới quá trình lão hóa của da, chỉ can thiệp giải quyết hình thái mà không liên  quan đến chức năng, thì được coi là Phẫu thuật thẩm mỹ, một chuyên nghành nhỏ trong Phẫu thuật tạo hình nhưng lại rất phát đạt và nhiều người chú ý đến.

     

    Phạm vi thứ hai của tạo hình là phẫu thuật các khối u ở da, dù đó là u bẩm sinh hay mắc phải, lành tính hay ác tính, u da hay u máu, u ở vùng đầu hay ở chân. Nhóm này phổ biến là các u sắc tố, u máu, các dị dạng mạch máu, u bạch huyết, u mỡ... mục đích của Phẫu thuật tạo hình là trả lại sự toàn vẹn của da và mô mềm sau khi cắt bỏ khối u.

     

    Các can thiệp liên quan tới tổn thương khuyết da và mô mềm sau chấn thương, thường do các tai nạn giao thông, tai nạn lao động, hoặc di chứng do điều trị gây ra (xạ trị, hoặc trị liệu, phẫu thuật...). Cũng có thể xếp các bệnh lý hay chấn thương bàn tay vào nhóm bệnh này của Phẫu thuật tạo hình. Các phẫu thuật này thường được kết hợp với các bác sĩ chấn thương chỉnh hình, hay do bác sỹ phẫu thuật tạo hình độc lập thực hiện.

     

    Phạm vi liên quan tới những dị tật bất thường bên ngoài của cơ thể như dị tật sọ mặt, dị tật mặt, dị tật bàn tay, bàn chân, dị tật cơ quan sinh dục ngoài... đây là nhóm bệnh lý chủ yếu ở trẻ em. Thời gian can thiệp có thể trước sinh, sơ sinh hay trước tuổi đi học...

     

    Cuối cùng là Phẫu thuật thẩm mỹ , bao gồm tất cả các phẫu thuật, thủ thuật, biện pháp nhằm cải thiện những thiếu xót hay sự chưa hoàn thiện một bộ phận trên một người bình thường, hoặc sửa chữa những dấu ấn do thời gian để lại trên cơ thể như căng da mặt, hút mỡ... Loại phẫu thuật này thường được làm theo yêu cầu của khách hàng.

     

     

     

    Triển vọng của chuyên ngành Phẫu thuật tạo hình trong tương lai

     

    Tháng 12 năm 2005, ca ghép mặt đầu tiên trên thế giới đã được nhóm phẫu thuật viên người Pháp thực hiện tại Amiens, một thành phố phía Bắc của nước Pháp, bệnh nhân là một phụ nữ 38 tuổi bị biến dạng mặt do chó cắn trước đó. Khuôn mặt ghép được lấy từ một phụ nữ chết thực vật. Để thực hiện thành công ghép mặt, cần có sự kết hợp của nhiều kỹ thuật hiện đại khác nhau, của nhiều chuyên khoa khác nhau. Ngoài việc phục hồi lại nguyên vẹn bộ mặt bị biến dạng nặng nề do bỏng, chấn thương, dị tật... phẫu thuật này còn trả lại cho bệnh nhân sự cảm nhận bên trong bộ mặt hay một tâm lý là con người vốn có ở mỗi người bình thường. Tiếp theo ca ghép mặt đầu tiên ở Pháp, việc ghép mặt và dương vật được các phẫu thuật viên Trung Quốc thực hiện thành công trong năm 2006. Phẫu thuật ghép mặt là một bước nhảy vọt của chuyên ngành phẫu thuật tạo hình và mở ra một hướng nghiên cứu mới, ghép mô sống phức hợp đồng loài.

     

    Sự vô nhân đạo của nhân bản đã buộc các nhà nghiên cứu không thể trông chờ vào việc thu được các bộ phận ghép có cùng cấu trúc gen của người bệnh, chính vì vậy công cuộc tìm kiếm các chất liệu tạo hình tự thân hay đồng loại, thậm chí các chất liệu nhân tạo là động lực thúc đẩy cho chuyên nghành Phẫu thuật tạo hình hiện đại. Các nghiên cứu tế bào gốc còn là một hướng quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong việc thiết lập những ngân hàng chất liệu tạo hình phục vụ cho công việc điều trị của các nhà phẫu thuật tạo hình.

     

    Các phẫu thuật trước sinh được thực hiện khi con người còn ở giai đoạn bào thai cũng được nghiên cứu và trở thành hiện thực, đây là bước quan trọng nhằm giải quyết các dị tật bẩm sinh ở vùng sọ mặt, chi thế, giảm đến mức tối đa những di chứng gặp phải nếu kỹ thuật đó được thực hiện sau khi đứa trẻ ra đời.

     

    Và dĩ nhiên, các kỹ thuật – công nghệ để kéo dài tuổi thanh xuân trên khuôn mặt, các bộ phận trên cơ thể con người luôn là đối tượng đầu tư nghiên cứu của hàng ngàn Labo trên khắp thế giới nhằm trang bị cho các bác sỹ làm thẩm mỹ có nhiều vũ khí hiệu quả hơn trong việc thỏa mãn nhu cầu của hàng chục triệu con người hàng năm.

     

     

     

    Kết luận

     

    Cùng với quy luật tất yếu là bệnh bẩm sinh cùng tồn tại với con người sinh ra, các bệnh lý hình thành do cuộc sống hay chính do con người gây ra, sự lão hóa cả thế xác lẫn tinh thần của con người, thì nhiệm vụ của các phẫu thuật viên tạo hình trong thể kỷ 21 này khá nặng nề. Nhiệm vụ này không chỉ đơn giản là phục vụ nhu cầu xa xỉ của những người giàu như mọi người quan niệm, mà đó là giải quyết những yêu cầu đương nhiên của người bệnh mà đã bị chúng ta bỏ quên cả về khía cạnh đạo đức và trách nhiệm.

     

     

     

    (*) Bộ môn Phẫu thuật tạo hình - Trường Đại học Y Hà Nội

                                                                                           Ths. Bs. Vũ Trung Trực

    Các tin đã đăng:


    TIN NỔI BẬT



    LIÊN KẾT